tâm lý phạm tội
TPO - Theo chuyên gia tâm lý tội phạm, hành vi của đối tượng Nguyễn Trường Giang (26 tuổi, trú tại Hà Nam) bị thúc đẩy từ nỗi sợ hãi bên trong con người
Theo thông báo của Bộ Công an, từ đầu năm đến nay, tình hình tội phạm hình sự tuy được kiềm chế về số vụ nhưng tính chất hành vi phạm tội và hậu quả gây ra ngày càng nghiêm trọng. Đáng chú ý, đối tượng mắc bệnh tâm thần, đối tượng sử dụng ma túy tổng hợp "ngáo đá" gây án giết người, cố ý gây thương tích còn diễn biến rất phức tạp.
Tâm lý học tội phạm - phác họa chân dung kẻ phạm tội. Tội phạm, nhất là những vụ án mạng, luôn là một chủ đề thu hút sự quan tâm của công chúng, khơi gợi sự hiếu kỳ của bất cứ ai. Một khi đã bắt đầu theo dõi vụ án, hẳn bạn không thể không quan tâm tới
Phân tích cụ thể hơn về việc này, tiến sĩ Đoàn Văn Báu - Chuyên gia tâm lý tội phạm cho rằng, tâm lý của phạm nhân đang chấp hành án phạt tù đều cảm thấy vô cùng gò bó, luôn mong muốn được tự do, muốn được đoàn tụ với gia đình nên sẽ dẫn đến hai xu hướng điển hình. Đối tượng Triệu Quân Sự bị bắt giữ sau khi trốn
Tâm lý tội phạm là trạng thái tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của tội phạm có liên quan đến việc chuẩn bị và thực hiện tội phạm, sự hình thành tâm lí phạm tội, ý đồ phạm tội và những biện pháp, phương thức thực hiên tội phạm, Mỗi tội phạm sẽ đều có một trạng thái tâm lí riêng, do đó trong công
lirik lagu new syclon hidupku sepi tanpamu. Nếu bạn có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay cho luật sư qua hotline Luật sư can thiệp càng sớm, cơ hội bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp càng cao! Việc nghiên cứu đến tâm lý tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu tội phạm và phát hiện ra người phạm tội. Hãy cùng Luật Quang Huy tìm hiểu thêm vấn đề này tại nội dung bài viết sau đây. 1. Tâm lý tội phạm là gì?2. Tâm lý học tội phạm là gì?3. Các yếu tố của tội phạm4. Cấu trúc tâm lý của hành vi tội Thứ nhất Nhu Thứ hai Động cơ phạm Thứ ba Mục đích phạm Thứ tư Quyết định thực hiện hành vi phạm tội5. Chủ thể của tội phạm là gì?6. Mặt khách quan của tội phạm là gì?7. Mặt chủ quan của tội phạm là gì?8. Khách thể của tội phạm là gì?9. Điều kiện, hoàn cảnh phạm tội?10. Cơ sở pháp lý Tâm lý tội phạm là trạng thái tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ của tội phạm có liên quan đến việc chuẩn bị và thực hiện tội phạm, sự hình thành tâm lý phạm tội, ý đồ phạm tội và những biện pháp, phương thức thực hiện tội phạm. Mỗi tội phạm sẽ có một trạng thái tâm lý riêng, do đó trong công tác đấu tranh về phòng chống tội phạm, các cơ quan bảo vệ pháp luật đều cần phải nghiên cứu, phân tích, nắm chắc tâm lý tội phạm; về ý đồ phạm tội, cách thức, hành vi và phương pháp thực hiện tội phạm. 2. Tâm lý học tội phạm là gì? Tâm lý học tội phạm là khoa học nghiên cứu những hiện tượng tâm lý nảy sinh trong quá trình hoạt động phạm tội của các tội phạm để nhằm phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn xã hội. Tâm lý học tội phạm là một chuyên ngành của sự ứng dụng tâm lý học vào các mối quan hệ khác nhau của con người, thông qua việc phân tích hành vi của con người để đi từ kiểm tra, sưu tâm và đưa ra được các chứng cứ có ích trong việc điều tra, xét xử. Để nắm chắc về tâm lý của tội phạm cũng như để có những phương pháp, biện pháp thích hợp phục vụ yêu cầu đấu tranh, khai thác, cũng như trong quá trình cảm hoá giáo dục đối tượng, các cơ quan bảo vệ pháp luật nói chung và trong lực lượng công an nói riêng thì vấn đề “tâm lý tội phạm” đã được nâng lên thành một bộ môn trong ngành tâm lý học gọi là tâm lý học tội phạm. 3. Các yếu tố của tội phạm Nghiên cứu về mặt cấu trúc, tội phạm có đặc điểm chung là đều được hợp thành bởi những yếu tố nhất định, tồn tại không tách rời nhau nhưng có thể cho phép nghiên cứu độc lập với nhau. Theo khoa học luật hình sự Việt Nam, những yếu tố cấu thành nên tội phạm bao gồm Chủ thể của tội phạm; Mặt khách quan của tội phạm; Mặt chủ quan của tội phạm; Khách thể của tội phạm. Trong thực tế, mỗi yếu tố chỉ tồn tại với tư cách là bộ phận cấu thành của thể thống nhất là tội phạm. Thiếu bất kì yếu tố nào cũng không có tội phạm. 4. Cấu trúc tâm lý của hành vi tội phạm Thành phần cấu trúc của hành vi phạm tội trong tâm lý tội phạm bao gồm Thứ nhất Nhu cầu Nhu cầu là sự phản ánh cảm giác thiếu hụt một điều gì đó của con người đối với môi trường bên ngoài. Nó làm cho con người luôn cảm thấy thiếu thốn và phải tìm cách hành động để bù đắp vào những khoảng trống đó. Chính vì vậy, nhu cầu là nguyên nhân sâu xa bên trong hành vi. Mọi hành động của con người đều trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến sự thỏa mãn nhu cầu bản thân. Thứ hai Động cơ phạm tội Động cơ phạm tội là các yếu tố tâm lý bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội. Đó có thể là những xúc cảm, tình cảm, mong muốn, những hình ảnh tâm lý… Cơ sở của động cơ là hệ thống nhu cầu. Tuy nhiên, không phải bất cứ nhu cầu nào cũng trở thành động cơ thúc đẩy việc thực hiện hành vi. Khi nhu cầu không được thỏa mãn được sự tác động tương thích của điều kiện bên ngoài thì nó mới trở thành động cơ. Quá trình tâm lý học gọi là “động cơ hóa”. Động cơ và hành vi thúc đẩy có thể không cùng tính chất với nhau. Một động cơ tốt cũng có thể dẫn đến việc phạm tội. Thứ ba Mục đích phạm tội Mục đích phạm tội sẽ là kết quả mà người phạm tội mong muốn đạt được bằng việc thực hiện hành vi phạm tội. Nói cách khác, nó là kết quả đã được người phạm tội hình thành lên trong đầu óc mình trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Mục đích phạm tội được xác định trên cơ sở động cơ. Động cơ thúc đẩy mà con người đề ra cho mình những mục đích cụ thể. Chúng thực hiện chức năng nhận thức và khách thể của hành vi, định hướng và điều khiển hành vi. Ngoài ra, mục đích sau khi được xác định rõ ràng cũng có tác động lôi cuốn con người thực hiện hành động. Trong thực tế, giữa động cơ và mục đích phạm tội không phải là hai hiện tượng tâm lý khác nhau. Chức năng chủ yếu của động cơ là động lực thúc đẩy hành vi, còn mục đích là định hướng và điều khiển hành vi. Cùng một loạt động cơ thúc đẩy nhưng do đặc điểm tâm lý và điều kiện, hoàn cảnh của mỗi người khác nhau nên họ có những mục đích và cách thức thực hiện khác nhau. Như vậy, một mục đích có thể được xác định dựa trên cơ sở của những động cơ thúc đẩy khác nhau. Thứ tư Quyết định thực hiện hành vi phạm tội Trong những hành vi phạm tội với lỗi cố ý, sau khi xuất hiện động cơ, mục đích và lập kế hoạch thực hiện, người phạm tội thường cân nhắc một lần nữa có thực hiện hành động để đạt được mục đích đã định hay không? Vì vậy, quyết định thực hiện hành vi phạm tội là sự lựa chọn cuối cùng của người phạm tội về mục đích, phương án, phương tiện phạm tội, thể hiện ý chí và lý trí của người phạm tội cũng như thái độ của họ đối với hành vi phạm tội và hậu quả. Tâm lý tội phạm là gì? Phân tích tâm lý tội phạm 5. Chủ thể của tội phạm là gì? Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật đã thực hiện hành vi phạm tội. Ở một số tội nhất định, chủ thể còn có thêm đặc điểm khác vì khi có đặc điểm khác chủ thể có thể thực hiện được hành vi phạm tội của các tội này. Ví dụ Chỉ người có chức vụ, quyền hạn mới có thể thực hiện được hành vi phạm tội có dấu hiệu “lợi dụng chức vụ, quyền hạn”? Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng phải có chủ thể. Không có chủ thể của tội phạm thì không có tội phạm. Chủ thể của tội phạm phải là một người cụ thể đang sống. Khi người phạm tội còn sống họ mới nguy hiểm cho xã hội, cần giáo dục để họ trở thành người có ích cho xã hội. Chỉ con người đang sống mới cần cải tạo, giáo dục. Luật hình sự Việt Nam quy định chủ thể là con người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, pháp luật hình sự không cho phép người khác chịu trách nhiệm hình sự thay cho người phạm tội, kể cả họ là người thân thích ruột thịt. Đây là nguyên tắc cá nhân hóa, cụ thể hóa trách nhiệm hình sự. Pháp luật hình sự không cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự người đã chết. Sau khi phạm tội, trước khi bị khởi tố nếu người phạm tội đã chết thì không được khởi tố vụ án hình sự. Trong quá trình điều tra, nếu người phạm tội đã chết thì phải đình chỉ vụ án với họ. Chủ thể của tội phạm phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Chỉ những người đủ năng lực trách nhiệm hình sự mới hiểu rõ hành vi của mình đúng hay sai, mới điều khiển được, tự chủ được hành vi của mình. Người đủ năng lực trách nhiệm hình sự là người không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh tật làm mất khả năng nhận thức hoặc tự chủ hành vi của mình. Pháp luật Việt Nam dựa vào hai tiêu chuẩn để xác định năng lực trách nhiệm hình sự tiêu chuẩn y học và tiêu chuẩn tâm lý. Theo tiêu chuẩn y học chủ thể tội phạm phải là người không đang trong thời kỳ mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác làm mất khả năng nhận thức và tự chủ hành vi của mình. Theo tiêu chuẩn tâm lý chủ thể tội phạm phải là người nhận thức và tự chủ được hành vi của mình, là người hiểu được bản chất hành vi, điều khiển được hành vi. Chủ thể tội phạm phải là người đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Căn cứ theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Độ tuổi theo quy định của Bộ luật Hình sự là tuổi tròn tính từ ngày tháng năm sinh đến ngày tháng năm sinh. Việc xác định độ tuổi được căn cứ vào giấy khai sinh, sổ hộ khẩu. Trường hợp không xác định được độ tuổi thì phải tiến hành giám định độ tuổi. Ngoài những dấu hiệu nói trên, có những tội phạm phải do chủ thể có điều kiện đặc biệt mới thực hiện được. Dấu hiệu chủ thể đặc biệt bao gồm dấu hiệu về chức vụ, quyền hạn; dấu hiệu nghề nghiệp, tính chất công việc; dấu hiệu giới tính, dấu hiệu quan hệ gia đinh, họ hàng. Nhân thân người phạm tội tuy không phải là dấu hiệu của chủ thể, nhưng khi truy cứu trách nhiệm hình sự bao giờ cũng phải làm rõ những đặc điểm về nhân thân người phạm tội, điều đặc biệt coi trọng là những đặc điểm về lai lịch tư pháp của họ như tiền án, tiền sự áp dụng hình phạt thỏa đáng, nhằm đạt hiệu quả giáo dục, cải tạo người phạm tội. 6. Mặt khách quan của tội phạm là gì? Mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm. Biểu hiện cơ bản của mặt khách quan là hành vi khách quan có tính gây thiệt hại cho xã hội thường được gọi là hành vi khách quan. Biểu hiện thứ hai của mặt khách quan là hậu quả thiệt hại do hành vi khách quan gây ra thường được gọi là hậu quả của tội phạm. Ngoài hai biểu hiện này, còn có các biểu hiện khác của mặt khách quan là công cụ, phương tiện được sử dụng, thời gian, địa điểm mà hành vi khách quan xảy ra… Tội phạm cụ thể nào cũng đều có những biểu hiện của mặt khách quan được thể hiện ra bên ngoài. Không có những biểu hiện ra bên ngoài đó thì không có những yếu tố khác của tội phạm và do vậy cũng không có tội phạm. 7. Mặt chủ quan của tội phạm là gì? Mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội phạm. Trong đó, biểu hiện có tính cơ bản là lỗi của chủ thể. Chủ thể của tội phạm phải có lỗi khi thực hiện hành vi khách quan có tính gây thiệt hại. Lỗi đó có thể là cố ý hoặc vô ý. Việc thực hiện hành vi khách quan có tính gây thiệt hại có thể do những động cơ khác nhau thúc đẩy và nhằm những mục đích nhất định. Các động cơ, mục đích này được gọi ở các tội cố ý là động cơ phạm tội, mục đích phạm tội. 8. Khách thể của tội phạm là gì? Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội bị tội phạm xâm phạm. Bất cứ hành vi phạm tội nào cũng đều gây thiệt hại hoặc hướng tới gây thiệt hại cho quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ. Không gây thiệt hại hoặc hướng tới gây thiệt hại cho đối tượng là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ thì hành vi khách quan không có tính gây thiệt hại và do vậy cũng không có tội phạm. Ví dụ Tội giết người xâm phạm quan hệ nhân thân; tội trộm cắp tài sản xâm phạm quan hệ sở hữu… Tóm lại, theo luật hình sự Việt Nam, bất cứ hành vi phạm tội nào, dù ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng, dù bị quy định bởi hình phạt tù chung thân, tử hình hay chỉ là hình phạt tiền cũng đều là thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan – giữa những biểu hiện bên ngoài và những quan hệ tâm lý bên trong, đều là hành vi của con người cụ thể, xâm hại hoặc nhằm xâm hại quan hệ xã hội nhất định. Sự thống nhất của bốn yếu tố này là hình thức cấu trúc, thể hiện đặc điểm về nội dung của tội phạm. Các tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau thì về cấu trúc, bốn yếu tố của tội phạm cũng có những nội dung biểu hiện khác nhau. Chính sự khác nhau này quyết định tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Ví dụ Tội giết người Điều 123 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội vô ý làm chết người Điều 128 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 khác nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội là do khác nhau về lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm. Tội phá rối an ninh Điều 118 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội gây rối trật tự công cộng Điều 318 Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 khác nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội là do khác nhau về yếu tố khách thể mà mục đích phạm tội hướng tới. Mỗi yếu tố trên đây đều có ý nghĩa quan trọng riêng. Trong hành vi phạm tội cụ thể, yếu tố nào đó có thể ảnh hưởng đến tính nghiêm trọng của tội phạm nhiều hơn các yếu tố khác. Nhưng điều đó không có nghĩa là các yếu tố khác không quan trọng. Bốn yếu tổ của tội phạm có liên quan với nhau và tổng hợp lại cùng quyết định tính nguy hiểm của tội phạm. 9. Điều kiện, hoàn cảnh phạm tội? Mỗi hành vi phạm tội sẽ luôn được thực hiện trong một tình huống nhất định với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể về không gian, thời gian và những sự kiện có liên quan xảy xa trong tình huống đó. Chúng là mặt khách quan của tội phạm. Chính sự tác động qua lại giữa điều kiện, hoàn cảnh của tình huống bên ngoài với các đặc điểm nhân cách bên trong đã đưa đến phản ứng của con người, đó là những hành vi, kể cả hành vi phạm tội. Chính từ những tác động bên ngoài môi trường sống lên cá nhân đã làm cho nhu cầu chưa được thỏa mãn ở họ trở thành động cơ thúc đẩy hành động. Cũng chính điều kiện và hoàn cảnh bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình hình thành và thực hiện hành vi phạm tội. Khi xác định được mục đích, kế hoạch, lựa chọn công cụ, phương tiện phạm tội, khi đưa ra quyết định thực hiện, con người không dự đoán được hậu quả của hành vi. Sự nhận thức, đánh giá tình huống không đúng đắn có thể đưa con người đến với những hành vi sai lệch chuẩn mực đạo đức, hành vi phạm pháp và dẫn đến phạm tội. Tóm lại, hành vi phạm tội trong tâm lý tội phạm là kết quả của sự tác động qua lại giữa các đặc điểm tâm lý, nhân cách bên trong con người với điều kiện, hoàn cảnh bên ngoài. 10. Cơ sở pháp lý Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về tâm lý tội phạm. Nếu còn vấn đề thắc mắc hoặc chưa rõ bạn có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Tổng đài tư vấn luật hình sự trực tuyến của HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để được tư vấn trực tiếp. Trân trọng./
CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TÂM LÝ HỌC TỘI PHẠMI. KHÁI NIỆM, ĐỐI TƯỢNG VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA TÂMLÝ HỌC TỘI PHẠM1. Khái niệm Tâm lý học tội phạma. Tâm lý người phạm tộiTâm lý người phạm tội là tất cả hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óccủa người phạm tội, bao gồm hiện tượng tâm lý tích cực và tiêu cực điều khiểnhành vi, hoạt động của Tâm lý người phạm tội là tất cả hiện tượng tinh thần của người phạm tội, làkết quả của quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của ngườiphạm tội. Sự phong phú về đời sống tinh thần của người phạm tội do hiện thựckhách quan quy Tâm lý người phạm tội bao gồm cả hiện tượng tâm lý tích cực và tâm lý tiêucực trong đó có những hiện tượng tâm lý tiêu cực thúc đẩy, định hướng, điềukhiển, điều chỉnh hành vi phạm tội của người phạm tội.- Quá trình hình thành và phát triển tâm lý người phạm tội vừa tuân theo quyluật của sự hình thành và phát triển tâm lý người nói chung, vừa tuân theo quy luậthình thành và phát triển tâm lý tội phạm nói riêng như Quy luật sự phát triển tâmlý hành vi tiêu cực theo hướng dao động dần; quy luật sự phát triển tâm lý hành vitiêu cực theo Tâm lý tội phạmTâm lý tội phạm là những nét tâm lý lệch chuẩn phản ánh sự tác động củanhững yếu tố tiêu cực trong môi trường, nó định hướng, điều khiển, điều chỉnhhành vi phạm tội của người phạm Tâm lý tội phạm là một bộ phận của tâm lý người phạm tội. Tâm lý ngườiphạm tội bao gồm hiện tượng tâm lý tích cực và hiện tượng tâm lý tiêu cực trongđó có tâm lý tội phạm.- Hành vi phạm tội và tâm lý tội phạm gắn bó chặt chẽ với nhau. Sự gắn bógiữa hành vi phạm tội và tâm lý tội phạm thể hiện ở nội dung sau
Tâm lý tội phạm là gì? Tìm hiểu về tâm lý tội phạm và ý nghĩa của việc nghiên cứu tâm lý tội phạm?Tâm lý học tội phạm là một chuyên ngành mới trong hệ thống khoa học tâm lý Việt Nam, những giá trị của tâm lý học tội phạm mang đến là rất lớn trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm, đảm bảo sự công bằng trong hoạt động bảo vệ pháp luật và đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa. Vậy tâm lý tội phạm là gì? Tâm lý tội phạm có ý nghĩa như thế nào? Tổng đài Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 Mục lục bài viết 1 1. Tâm lý tội phạm là gì? 2 2. Tìm hiểu về tâm lý tội phạm và ý nghĩa của việc nghiên cứu tâm lý tội phạm Các thuyết tâm lý trong tội phạm học Ý nghĩa của việc nghiên cứu tâm lý tội phạm Tâm lý học tội phạm là khoa học nghiên cứu những hiện tượng tâm lý nảy sinh trong quá trình hoạt động phạm tội của các tội phạm nhằm phòng ngừa, phát hiện và đấu tranh chống tội phạm, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn xã hội. Tâm lý học tội phạm là một chuyên ngành của sự ứng dụng tâm lý học vào các mối quan hệ khác nhau của con người, và thông qua việc phân tích hành vi của con người để đi từ kiểm tra, sưu tầm và đưa ra được các chứng cứ có ích cho việc xét xử của Tòa án. Tâm lý tội phạm tên tiếng Anh là “Criminal psychology”. 2. Tìm hiểu về tâm lý tội phạm và ý nghĩa của việc nghiên cứu tâm lý tội phạm Như đã đề cập ở trên, tâm lý học tội phạm là một chuyên ngành của sự ứng dụng tâm lý học vào các mối quan hệ khác nhau của con người, và thông qua việc phân tích hành vi của con người để từ đó kiểm tra, sưu tầm và đưa ra được các chứng cứ có ích cho việc xét xử của tòa án. Tâm lý học tội phạm và khoa học hành vi có mối quan hệ với nhau. – Đối tượng nghiên cứu của tâm lý học tội phạm cụ thể đó là các hiện tượng, đặc điểm, cùng các khía cạnh tâm lý phát sinh trong quá trình phạm tội của tội phạm; phân tích để làm rõ động cơ, mục đích trong diễn biến và hậu quả của tâm lý của hành vi phạm tội của thể của cá thể. Nghiên cứu về nhân cách của người phạm tội, đặc trưng trong nhân cách của người phạm tội và các kiểu nhân cách của người phạm tội. Nghiên cứu đến tâm lý của nhóm phạm tội, và nguyên nhân tâm lý xã hội của tội phạm được hình thành trong điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan ảnh hưởng. Các thuyết tâm lý trong tội phạm học Các thuyết tâm lý trong tội phạm học bao gồm những lý thuyết cơ bản sau để giải thích và lý giải cho các hiện tượng tâm lý của con người, đặc biệt là tâm lý người phạm tội. Thuyết phân tâm học của tác giả Freud Trong thuyết phân tâm của Freud, ông khẳng định rằng con người luôn tồn tại hai loại năng lực đối nghịch nhau đó là bản năng sống của con người hướng tới hoạt động và bản năng chết thúc đẩy hoạt động của con người hướng tới sự hủy diệt. Ông cũng đưa ra phân tích của mình về những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực hành vi của bản thân như + Bản năng là thứ được hình thành từ khi con người sinh ra, bản năng là sự tượng trưng cho vô thức trong sự chống đối của cá nhân đối với xã hội. + Bản năng là thứ cá tính riêng trong tâm lý của mỗi người, bản ngã cá nhân của con người thể hiện ý thức và ý chí cá nhân của người đó. + Siêu bản ngã là nói đến khả năng của bản thân họ trong quá trình học hỏi về các quy tắc, giá trị văn hóa trong xã hội. Và thể hiện lương tâm của cá nhân trong xã hội. Quá đó muốn nói đến tội phạm là kết quả của bản năng cá nhân người đó trỗi dậy đi quá với chuẩn mực xã hội và khiến bản năng đó họ không thể kiểm soát được hành vi của bản thân. Và cũng cho rằng sự thăng hoa không phải là nguyên nhân tương xứng dẫn đến các nguyên nhân pham tội khác của các cá nhân. Thuyết hành vi trong tâm lý tội phạm của tác giả Skinner – Dựa vào tâm lý học tội phạm và học hành vi để đưa ra lý thuyết về hành vi để thực hiện hành động phạm tội của mình. Lý thuyết này nói đến các tác nhân bên ngoài làm ảnh hưởng đến hành vi của con người. Môi trường sống tác động ảnh hướng đến việc thúc đẩy hành vi của con người. Ông đưa ra lý thuyết về sự khen thưởng khiến con người thực hiện nhiều hơn các hành vi của mình. – Thông qua thuyết hành vi này để nói đến môi trường bên ngoài chính là nguyên nhân chính dẫn đến hành vi phạm tội của tội phạm. Từ đó để đưa ra nguyên nhân khác quan dẫn đến hình thành nền tâm lý phạm tội của những kẻ tội phạm. * Thuyết về sự bắt chước trong tâm lý phạm tội của tác giả Gabriel Tarde Gabriel Tarde – Tác giả đã cho rằng cơ sở tạo nên xã hội là từ sự bắt chước của con người. Ông cho rằng hành vi của con người chính là sự bắt chước lại hành vi của người khác. Qua đó ông cho rằng hành vi phạm tội của người tội phạm đến từ sự bắt chước từ hành vi phạm tội của người khác. Ông chia giai đoạn trong bắt chước hành vi con người thành 3 loại như sau + Con người bắt chước những người mà bản thân học có tần số và mức độ tiếp xúc nhiều, tiếp xúc bao nhiêu thì sẽ bị ảnh hưởng nhiều hoặc ít từ hành vi của người khác. + Những người thấp hơn thường bắt chước những người giỏi hơn mình mà người ta thường hay gọi đó là hình mẫu mình muốn trở thành. Ông đưa ra giả thuyết rằng khi hai khuôn mẫu của hành vi có sự mâu thuẫn với nhau thì sẽ có một khuôn mẫu mạnh hơn chiếm lấy vị trí của khuôn mẫu còn lại. Từ đó ông đưa ra thuyết bắt chước của con người đến từ hành vi quan sát của người đó với các hành động của người khác và bắt chước lại những hành động đó của họ. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tâm lý tội phạm – Tâm lý học là một ngành khoa học xã hội mang tính ứng dụng cao, tâm lý học có nhiều phân ngành khác nhau. Trong đó có tâm lý học tội phạm, việc nghiên cứu và tìm hiểu tâm lý của người phạm tội sẽ giúp cho các cơ quan điều tra có căn cứ hợp lý để lý giải những nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm pháp của một cá nhân. – Trước hết, nghiên cứu về tâm lý con người để lý giải cho các hành vi của họ và động cơ dẫn đến tình trạng phạm tội của họ. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của ngành tâm lý kết hợp với việc điều tra tội phạm đã đưa ra việc làm đối với các chuyên gia về tâm lý đó là sự xuất hiện và phát triển của đội ngũ chuyên gia tâm lý học tội phạm nhằm hỗ trợ đắc lực cho quá trình điều tra về tâm lý con người cũng như lý giải các hành vi của con người có liên quan đến tâm lý. – Thông qua quá trình phân tích tâm lý tội phạm của các chuyên gia tâm lý đã hỗ trợ rất nhiều cho quá trình kết án và đưa ra phán quyết tốt nhất với những tội phạm và có cách để điều trị tâm lý cho các phạm nhân bị mắc các bệnh về tâm lý dẫn đến các hành vi sai lệch với chuẩn mực đạo đức xã hội. – Mặt khác, tội phạm thuộc nhiều tầng lớp, ngành nghề và lứa tuổi,… do đó khả năng, mức độ phạm tội sẽ khác nhau. Tâm lý học tội phạm không chỉ nghiên cứu nguyên nhân, lý giải phạm tội từ góc độ tâm lý mà còn phát hiện, dự đoán khả năng dẫn đến nguy cơ phạm tội của mỗi cá nhân. Tức nhiên là tâm lý học tội phạm sẽ cung cấp giải pháp để cảm hóa phạm nhân bằng phương pháp tham vấn tâm lý. như hành vi phạm tội nhìn nhận từ góc độ tâm lý; nghiên cứu tâm lý trong tâm lý học tư pháp; vai trò của tham vấn tâm lý trong hoạt động giáo dục, cảm hóa phạm nhân là người chưa vị thành niên; một số đặc điểm tâm lý có nguy cơ dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của trẻ vị thành niên… – Nghiên cứu tâm lý tội phạm nhằm thiết lập hồ sơ và điều tra tội phạm thông quan tâm lý. Thông qua việc thu thập thông tin của vụ án và thông tin về tội phạm sẽ giúp cho các chuyên gia tâm lý tội phạm thiết lập nên hồ sơ cá nhân của phạm nhân, thông qua đó để điều tra tâm lý phạm tội của họ họ phạm tội vì mục đích gì, tại sao lại có động cơ phạm tội như vậy, tâm lý trong các giai đoạn phạm tội được diễn ra như thế nào… Nhờ vào việc đánh giá các yếu tố khách quan tác động và các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng đến tâm lý của phạm nhân và tâm lý phạm tội như thế nào. Từ việc hình thành hồ sơ phạm tội này sẽ giúp các cơ quan điều tra tìm ra được các nguyên nhân, những nhân tố ảnh hưởng đến động cơ gây án, bên cạnh đó vấn đề về lứa tuổi, mức độ nguy hiểm của vụ án cũng gây ảnh hưởng đến tâm lý người phạm tội. – Nghiên cứu tâm lý tội phạm còn là có vai trò vô cùng to lớn trong việc phỏng vấn, hỏi cung, lấy lời khai, nghiên cứu tâm lý nhân chứng. Khi hỏi cung, lấy lời khai của bị can, bị cáo hay của người làm chứng và những người liên quan với cơ quan điều tra thì trong giai đoạn này, cơ quan điều tra bằng các nghiệp vụ của mình sẽ đánh giá được tâm lý của họ, đánh giá xem họ nói thật hay nói dối. Thông qua những đánh gia về tâm lý của tội phạm và nhân chứng để đưa ra các cách đặt vấn đề, đặt câu hỏi trong các lần hỏi cung, tác động vào tâm lý của bị can, bị cáo để từ đó bị can, bị cáo sẽ cung cấp lời khai một cách trung thực, chính xác, không trốn tránh. – Ngoài ra, nghiên cứu tâm lý tội phạm còn ứng dụng trong đánh giá và điều trị tâm lý tội phạm. Thông qua nghiên cứu tâm lý tội phạm thì các chuyên gia đánh giá được tâm lý của người phạm tội xem họ có vấn đề về tâm lý, suy nghĩ, hành vi hay không để từ đó đưa ra các cách điều trị tâm lý tội phạm sao cho phù hợp nhất. đưa họ về dúng với chuẩn mực trong nhân thức hành vi con người. Qua đó các nhà tâm lý có biện pháp cụ thể trong việc cải tại phạm nhân đưa họ về đúng với tâm lý và suy nghĩ theo đúng chuẩn mực đạo đức của xã hội. Bằng cách tạo ra các chương trình và các biện pháp nhằm tác động tâm lý của người phạm tôi để giúp họ phát triển tâm lý hành vi của mình sao cho phù hợp.
LỜI NÓI ĐẦU Một người đàn ông đang tận hưởng chuyến đi dạo của mình tại núi Wopsononock ở Altoona thì bỗng vấp phải vật lạ. Cúi đầu nhìn kỹ, anh ta hoảng hốt phát hiện vật ngáng đường mình lại là một xác chết. Quá sợ hãi, người đàn ông này lập tức báo cảnh sát. Cảnh sát địa phương nhanh chóng có mặt tại hiện trường, kết quả khảo sát sơ bộ cho thấy thi thể bị cắt xẻ nghiêm trọng. Phần thi thể bị nhân chứng va vào vẫn còn tương đối nguyên vẹn. Người chết có dấu hiệu bị đánh, hai mắt bầm tím, xương cằm dưới đứt lìa. Tình trạng khuôn mặt nạn nhân chỉ có thể miêu tả bằng hai từ “thê thảm”. Không chần chừ, cảnh sát vùng Altoona bắt tay vào điều tra án mạng, nhưng không thể tìm ra manh mối khiến vụ án rơi vào bế tắc. Để có thể nhanh chóng bắt được kẻ thủ ác1, họ đã cầu cứu FBI. Chuyên gia lập hồ sơ tội phạm của FBI, John Douglas đã tới trước để hỗ trợ. Sau khi nghiên cứu tình tiết vụ án, ảnh chụp hiện trường và báo cáo pháp y, Douglas đã phác họa được hồ sơ tâm lý cơ bản của hung thủ bao gồm độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn và một số manh mối khác. Dựa theo những phán đoán của Douglas, cảnh sát địa phương đã tiến hành tìm kiếm và bắt giữ hai đối tượng tình nghi. Sau khi trải qua quá trình thẩm vấn nghiêm ngặt, quả thật một trong hai đối tượng chính là kẻ phạm tội. Làm thế nào mà John Douglas có thể phân tích được tuổi tác và trình độ học vấn của hung thủ? Rốt cuộc thủ phạm là ai? Vì sao hắn lại xuống tay tàn nhẫn như vậy? Chắc hẳn đây là những thắc mắc mà ai cũng có. Thông qua cuốn sách này, chúng ta sẽ cùng đi tìm đáp án cho những câu hỏi trên. Thực chất, phương pháp này của Douglas chính là phác họa hồ sơ tâm lý tội phạm, ngày nay được biết đến với cái tên “hồ sơ tội phạm” hoặc “nghiên cứu hành vi”. Tổ khoa học hành vi thuộc Cục điều tra liên bang Mỹ FBI2 được thành lập vào năm 1972 là đơn vị đầu tiên áp dụng kỹ thuật phân tích tâm lý tội phạm này. Trong quá trình phá án, các điệp vụ của FBI đã tìm hiểu quy luật hành vi và quy luật tâm lý của tội phạm trong quá trình giao tiếp với hung thủ. Sau này, các mật vụ FBI đã đề xuất thành lập một dự án có tính chiến lược và hệ thống để nghiên cứu chủ đề tâm lý và hành vi tội phạm, qua đó có một cái nhìn sâu sắc hơn về bối cảnh trưởng thành, phân tích hiện trường vụ án và các đặc điểm của nạn nhân để nắm bắt được phần lớn nội tâm, hành động và quy luật sinh hoạt của kẻ phạm tội. Trong quá trình nghiên cứu, FBI còn sử dụng nhiều dữ liệu từ các nhà chức trách, ví dụ như báo cáo điều tra của cảnh sát, biên bản thẩm vấn, lịch sử phạm tội,.. Những tài liệu này sẽ xác định phương hướng trinh sát, đồng thời thông qua hiện trường vụ án để phân tích hành vi, đoán biết đặc trưng tâm lý tội phạm. Tiếp theo đó, dựa vào những đặc điểm được suy đoán để xây dựng hình ảnh nghi phạm, bối cảnh gia đình và tính cách. Đây chính là “phác họa hồ sơ tâm lý tội phạm”. Về sau, kỹ thuật phác họa tâm lý dần dần được áp dụng vào nhiều vụ án khác nhau. Phương pháp này được biết đến rộng rãi hơn nhờ phim điện ảnh nổi tiếng thế giới “Sự im lặng của bầy cừu3”. Đoàn làm phim đã nhận được nhiều sự giúp đỡ từ FBI và được phép thực hiện một số cảnh phim tại chính trung tâm huấn luyện của Tổ khoa học hành vi. Ngoài ra, một số nhân viên của FBI cũng tham gia đóng những vai nhỏ trong phim. Sau thành công của “Sự im lặng của bầy cừu”, nhiều khán giả đã hiểu nhầm cũng như thần thánh hóa khả năng phác họa tâm lý và phân tích hành vi, cho rằng điều đó có thể giúp phá án tuyệt đối. Trên thực tế, tuy trực giác và kinh nghiệm rất quan trọng, nhưng mấu chốt vẫn là thu thập và đối chiếu số liệu. Một trong những thành viên sáng lập của Tổ khoa học hành vi John Douglas từng chia sẻ, trong quá trình điều tra, cảnh sát cần thẩm vấn tất cả những người có liên quan, đồng thời đi sâu vào tìm hiểu từng người, bởi như vậy mới có thể thu thập được thông tin tâm lý có giá trị. Tám chương của cuốn sách sẽ sử dụng những vụ án có thật để dẫn người đọc theo bước các chuyên gia lập hồ sơ tội phạm, trả lời cho câu hỏi làm thế nào để phân tích được tâm lý và hành vi tội phạm, giúp chính quyền bắt được hung thủ. Ngoài ra, cuốn sách cũng giới thiệu cho độc giả quá trình phát triển, các kỹ năng và kiến thức lập hồ sơ tội phạm. Nhờ đó, độc giả sẽ có cái nhìn sâu sắc, rõ ràng hơn về bộ môn tâm lý tội phạm và trở thành những cao thủ phá án đích thực. *** Sát Thủ Uống Máu Người Richard Trenton Chase Ngày 23 tháng 1 năm 1978, tại một thị trấn nhỏ ở vùng Sacramento, California, tài xế xe tải David Walling kết thúc công việc sớm để trở về với người vợ đang có bầu của mình. Về đến nhà, David không thấy vợ chờ mình ở cửa như thường lệ, anh cất tiếng gọi nhưng không có ai trả lời. Nhất thời, một dự cảm không lành dâng lên trong lòng David. Sau khi tắt máy, David vội vào nhà tìm vợ. Trong phòng ngủ, cảnh tượng đập vào mắt khiến anh kinh hoàng Người vợ đang mang thai nằm giữa một vũng máu, phần bụng bị rạch toang ra một cách tàn nhẫn. Quá sợ hãi, David chạy ra khỏi nhà và cầu cứu hàng xóm, gọi điện báo cảnh sát. Sau khi có mặt, cảnh sát ngay lập tức tiến hành điều tra sơ bộ. Họ phát hiện ra quần áo và đồ đạc trên người nạn nhân đều bị lột sạch nhưng lại không tìm thấy vật tùy thân ở hiện trường. Trên người nạn nhân có nhiều vết đâm, nội tạng bị móc ra, cắt nhỏ. Cạnh thi thể có một lọ sữa chua rỗng, bên trong vẫn dính máu của người bị hại. Vì vậy, cảnh sát kết luận rằng hung thủ là một kẻ vô cùng tàn ác, hắn ta đã đổ máu của người chết vào lọ sữa chua rồi uống. Thêm vào đó, cơ thể nạn nhân còn mất vài bộ phận. Ngoài những điều trên, cảnh sát không thu được manh mối nào khác. Sau vài lần điều tra, cảnh sát không tìm được động cơ gây án của hung thủ. Ngoại trừ quần áo mặc trên người nạn nhân, đồ đạc có giá trị trong nhà vẫn nguyên vẹn. Cuối cùng, chính quyền địa phương đành phải nhờ đến sự giúp đỡ của FBI. Sau khi tiếp nhận vụ án, đặc vụ FBI Lars Volpagle đã liên hệ với Robert K. Ressler, chuyên gia lập hồ sơ tội phạm được đào tạo đặc biệt của FBI. Sau khi nắm được thông tin về cách gây án, thời gian, địa điểm và đặc điểm của người bị hại, Ressler đã có những phác họa đầu tiên về hung thủ như sau Nam giới, người da trắng, độ tuổi trong khoảng từ 25 đến 27, dáng người cao gầy, nơi ở bẩn thỉu, lộn xộn. Nhiều khả năng có thể tìm thấy tang chứng tại nơi ở của kẻ giết người. Ngoài ra, hắn cũng có tiền sử bệnh thần kinh, thậm chí là nghiện ma túy, tính cách quái gở, lầm lì, không giỏi giao tiếp. Người này thường một thân một mình, không có công ăn việc làm, sống dựa vào trợ cấp xã hội. Đồng thời, hắn cũng chưa từng nhập ngũ, bỏ học khi đang học cấp ba hoặc đại học, có một hoặc nhiều bệnh hoang tưởng. Với kinh nghiệm phá án dày dạn, Ressler có thể đoán được chủng tộc và độ tuổi của hung thủ là vì vụ án có tính chất xâm hại tình dục. Trong những vụ án tương tự, hung thủ thường là nam giới, tuổi từ 20 đến 30. Ngoài ra, có rất ít các vụ án xâm hại tình dục đa sắc tộc, thông thường chỉ có người da trắng tấn công người da trắng, người da đen tấn công người da đen. Thêm vào đó, nạn nhân sống trong khu vực của người da trắng, sự xuất hiện của một người da đen sẽ gây chú ý. Chính vì vậy, Ressler phán đoán rằng đây là án mạng cùng sắc tộc. Dựa vào các thành quả nghiên cứu về tội phạm, Ressler phân kẻ phạm tội thành hai loại Kiểu thứ nhất gây án có logic, tuân theo những thủ pháp cố định. Kiểu thứ hai là những kẻ hành sự không có tính logic về mặt tâm lý và hành vi. Ảnh chụp hiện trường và báo cáo suy luận cho thấy hung thủ thuộc loại thứ hai. Kẻ giết người trong vụ án bà Walling không có quy tắc và cũng không dọn dẹp những dấu vết dễ để lộ thân phận. Từ đó có thể đoán ra hung thủ có bệnh thần kinh nghiêm trọng. Ngoài ra, những hành vi tàn ác của kẻ sát nhân đối với người bị hại cho thấy hắn đã chịu ảnh hưởng của bệnh tâm lý từ rất sớm. Kiến thức tâm lý học giúp Ressler suy đoán rằng hắn có thể mắc chứng hoang tưởng ảo giác. Hầu hết những giai đoạn đầu của chứng hoang tưởng ảo giác sẽ phát tác vào năm 19 tuổi. Vì loại bệnh tâm thần này có thời gian ủ bệnh khoảng mười năm nên Ressler nói rõ hơn độ tuổi của kẻ sát nhân có lẽ là từ 20 đến 30 tuổi. Những người mắc căn bệnh tâm thần này thường không ăn uống cẩn thận, dinh dưỡng kém, vì vậy có thể đoán được ngoại hình của thủ phạm khá gầy, dong dỏng. Đồng thời, trạng thái tâm lý cũng thường biểu hiện ra bên ngoài. Nhìn chung, người mắc bệnh không chú ý giữ gìn vệ sinh, bộ dạng nhếch nhác nên cũng không được người khác yêu quý, sống độc thân. Từ những điều này, Ressler kết luận rằng nơi ở của hung thủ chắc chắn sẽ rất bừa bộn, bẩn thỉu. Với những đặc điểm trên, mẫu người này cũng sẽ không được quân đội tuyển chọn, nhờ vậy mà Ressler có thể nói rằng hắn chưa từng nhập ngũ. Người mắc chứng hoang tưởng ảo giác thường có khả năng hoàn thành trung học phổ thông nhưng không thi đậu đại học. Vì vậy, những người này nếu có việc làm thì cũng sẽ là những công việc vặt vãnh hoặc bán thời gian. Tuy nhiên, vì tính cách quái dị, khả năng cao là họ cũng không làm được việc, chỉ có thể sống nhờ vào trợ cấp xã hội. Bên cạnh việc tiến hành phân tích sơ bộ tâm lý tội phạm, Ressler còn đưa ra phán đoán ở những phương diện khác. Ví dụ như nếu hung thủ lái xe khi hành động, chắc chắn đó sẽ là một chiếc xe lụp xụp. Tuy nhiên, do kẻ sát nhân có tiền sử bệnh tâm thần, trạng thái tinh thần hỗn loạn nên không thể lái xe đến rồi lại lái xe về sau khi gây án. Vì lý do này, Ressler cho rằng thủ phạm là một người sống gần nhà người bị hại, hắn đã đi bộ đến và đi sau khi sát hại nạn nhân. Đồng thời, ông còn đưa ra giả thiết rằng kẻ phạm tội là một bệnh nhân được thả ra khỏi viện tâm thần khoảng một năm trước đó. Trong thời gian Ressler chuẩn bị tham gia tiếp nhận vụ án, hung thủ tái xuất. Ngày 26 tháng 1, tại một ngôi nhà cách hiện trường vụ án khoảng 1 km, ba người bị bắn chết bằng súng lục 22 ly. Nạn nhân lần lượt là Evelyn Milos 36 tuổi, con trai cô Jason 6 tuổi và người bạn Daniel J. Merris 32 tuổi. Cả ba người đều bị sát hại thê thảm, đặc biệt là Milos. Không những bị bắn, thi thể nạn nhân còn có nhiều vết dao, các cơ quan nội tạng bị moi ra, cắt nát. Trong phòng, nước bồn tắm bị máu nhuộm đỏ. Sau khi điều tra, cảnh sát phát hiện hung thủ còn uống huyết dịch của nạn nhân. Sau đó, một nạn nhân nữa xuất hiện khi cháu trai 22 tháng tuổi của Milos cũng biến mất, nhiều khả năng đã bị hung thủ dùng xe ô tô du lịch của Merris bắt đi. Vì vậy, cảnh sát xem xét kỹ lưỡng các khu vực lân cận và tìm thấy chiếc xe bị bỏ lại ở một nơi không xa. Lần theo vết máu dính ở hiện trường, có thể đoán rằng đứa bé lành ít dữ nhiều. Báo cáo của cơ quan chức năng cho thấy nhà của người bị hại không mất đồ đạc. Nạn nhân Milos là bảo mẫu, tính tình hiền lành, thân thiện, không có kẻ thù. Khi nghe tin cô bị sát hại, hàng xóm láng giềng đều cảm thấy khó hiểu. Vì vậy, phía cảnh sát lại rơi vào bế tắc, không thể tìm ra động cơ gây án của thủ phạm. Ressler nghe tin về vụ án bèn bổ sung thêm một số chi tiết trong hồ sơ phác thảo bao gồm sống một mình, nơi trú ẩn cách địa điểm vứt xe khoảng 800 - 1600m. Sau khi thảo luận cùng Lars Volpagle, Ressler cho rằng hung thủ còn có chứng ám ành cuồng tín, những thứ hắn lấy trộm không phải là đồ vật có giá trị mà là nữ trang. Trước khi phạm tội, hắn đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm đồ nhằm thỏa mãn nỗi ám ảnh của mình, cội nguồn của căn bệnh này bắt nguồn từ trải nghiệm thời thơ ấu. Dựa trên những manh mối về chân dung tội phạm do Ressler cung cấp, đặc vụ FBI Lars Volpagle đã phối hợp cùng cảnh sát địa phương lấy chiếc xe du lịch bị bỏ lại làm trung tâm, thu thập vết tích trong bán kính khoảng 800m. Trong quá trình tìm kiếm, một người dân địa phương đã cung cấp cho cảnh sát thông tin hết sức quan trọng Vào ngày bà Walling bị sát hại, cô đã gặp lại bạn cùng trường cấp ba mười năm trước là Richard Trenton Chase. Nhưng khi trông thấy bộ dạng của Chase, cô đã trở nên sợ hãi vì ngoại hình gầy gò, hai mắt trũng sâu, đầu tóc rối bời và chiếc áo phông dính máu. Lúc đó, cô đang ngồi trong xe hơi, Chase muốn trò chuyện nên đã nắm lấy cửa xe. Tuy nhiên, cô lập tức lái xe bỏ đi. Thông tin mà người dân này cung cấp có nhiều điều trùng khớp với chân dung kẻ sát nhân của Resser, vì vậy đặc vụ FBI Lars Volpagel và cảnh sát địa phương quyết định tiến hành một cuộc điều tra sâu và theo dõi Richard Trenton Chase. Họ phát hiện ra rằng Chase sống cách khu vực chiếc xe bị bỏ lại chưa đầy một con phố. Thêm vào đó, cạnh nơi ở của anh ta có một chiếc ô tô cũ nát, chứa đầy báo cũ, chai rượu, chăn màn, Ngoài ra, họ cũng tìm thấy một con dao phay dài 30cm và một đội ủng dính máu trong xe. Cảnh sát quyết định bắt giữ Richard Trenton Chase. Lường trước sát nhân là một kẻ độc ác, điên cuồng và sở hữu súng lục 22 ly, lực lượng chức năng dùng kế điệu hổ ly sơn để dụ hắn ra khỏi nơi trú ẩn. Một sĩ quan giả vờ làm người quản lý căn hộ để mượn điện thoại, trong khi đó, một người khác đi vòng qua cửa nhà Chase. Hắn ta nhanh chóng nhận ra điều bất thường, vội vàng cầm theo một chiếc vali, mở cửa và cố gắng tẩu thoát ra xe hơi của mình. Ngay lập tức, cảnh sát ập tới khống chế Chase. Họ tìm thấy súng và chiếc ví của Merris trên người hắn ta. Ngoài ra, vali mà Chase mang theo cũng dính đầy máu. Tại căn hộ của Chase, cảnh sát phát hiện phòng ở bừa bộn, quần áo vương vãi khắp nơi. Họ thu được manh mối gồm một số dây xích buộc động vật, ba máy xay lẫn máu và quần áo nhuốm máu. Tủ lạnh có lưu trữ bộ phận cơ thể người và nhiều bát đũa dính máu. Về sau, cảnh sát biết được rằng động cơ giết người của Chase là để uống máu người. Sau khi Chase bị bắt, nhiều phương tiện truyền thông đã đi sâu vào tìm hiểu và đưa tin về đời tư của hắn. Lúc này, tuổi thơ bi thảm của kẻ giết người mới được làm rõ. Mẹ của Chase là bệnh nhân mắc chứng hoang tưởng điển hình, tính tình hung dữ, nóng nảy và thường xuyên cãi vã với chồng. Từ nhỏ, Chase đã mắc bệnh tâm thần, lớn lên không có bạn bè rồi dần dần sa ngã, hút cần sa và trở thành con nghiện. Hắn từng bị bắt vì tàng trữ cần sa. Sau khi sống một mình, Chase bắt đầu giết, cắt xác động vật và uống máu chúng. Hắn tin rằng đây là cách duy nhất có thể ngăn trái tim mình bị teo nhỏ. Chase từng bị đưa vào viện tâm thần vì những hành vi kỳ lạ. Trong thời gian điều trị, hắn thường bắt chim trong rừng của bệnh viện và uống máu chúng, trên miệng luôn luôn có vết máu. Vì vậy, các bệnh nhân khác gọi hắn là ma cà rồng. Một thời gian sau, Chase được phép xuất viện. Sau khi được thả tự do, bằng một cách nào đó hắn có được một khẩu súng lục và bắn chết vật nuôi nhà hàng xóm để uống máu. Dần dần, hắn trở nên tàn bạo hơn và bắt đầu giết người. May mắn thay, cảnh sát đã kịp thời ngăn chặn các vụ thảm sát đẫm máu của hắn. Nhờ hồ sơ tâm lý tội phạm của chuyên gia tâm lý Robert K. Ressler đã phác họa chính xác hình ảnh về kẻ sát nhân, cảnh sát mới có thể tiến hành khám xét và bắt giữ nghi phạm. Ressler viết trong nhật ký rằng “Chỉ phác họa thôi không thể tìm được hung thủ, chúng tôi vẫn phải dựa vào cảnh sát tuần tra để bắt kẻ thủ ác... Hồ sơ tâm lý tội phạm của tôi chỉ là một công cụ trong quá trình phá án. Trong trường hợp này, phác họa chân dung giúp thu hẹp phạm vi truy tìm kẻ sát nhân nguy hiểm.” CHIA SẺ CỦA CHUYÊN GIA LẬP HỒ SƠ TỘI PHẠM Trong quá trình điều tra, phác họa tâm lý tội phạm cần dựa vào những thông tin đã có về hành vi, đặc điểm tâm lý, động cơ gây án... của kẻ tình nghi để đi vào phân tích, từ đó dùng câu chữ để lột tả hình ảnh nhân vật, quy luật hành động của tội phạm. Điều này sẽ giúp cho việc phá án trở nên thuận lợi hơn. Phác họa tâm lý tội phạm còn có các cách gọi khác như phác họa hiện trường phạm tội, phác họa hồ sơ tâm lý, phác họa hung thủ, phác họa hành vi... Bộ môn này có nguồn gốc từ FBI, trong những năm 70 của thế kỷ 20, FBI đã thành lập Tổ khoa học hành vi, xây dựng những kỹ năng lập hồ sơ tội phạm dựa trên việc phân tích hiện trường vụ án. Lập hồ sơ tội phạm bao gồm bốn kỹ năng là điều tra hình sự, giám định pháp y, đánh giá tâm lý và nhân chủng học văn hóa. Thông thường, quy trình lập hồ sơ tội phạm bắt đầu từ việc bàn giao các thông tin về hiện trường vụ án, giám định pháp y, hành vi phạm tội và các chi tiết về người bị hại cho chuyên gia phác họa tâm lý. Sau đó, các chuyên gia sẽ tiến hành phân tích và gửi lại báo cáo về kẻ tình nghi. Nhìn chung, phác họa tâm lý tội phạm được xây dựng trên nguyên tắc của tâm lý học tội phạm và nhiều kiến thức từ các ngành khoa học khác. Thông qua phân tích tâm lý và các dấu vết hoặc chi tiết mà tội phạm để lại tại hiện trường có thể tìm ra đặc điểm tâm lý của hung thủ. Sau đó, tiếp tục hình dung ra độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, học vấn và các thông tin khác như thói quen cá nhân, bối cảnh gia đình và các mối quan hệ. Đặc điểm tâm lý gây án của kẻ thủ ác thường được hình thành dần dần từ những trải nghiệm xã hội và kinh nghiệm phạm tội trong thời gian dài. Ngoài ra, cũng không thể bỏ qua những mối liên hệ mật thiết như môi trường sống, trình độ học vấn, công việc. Những điều này được xây dựng và củng cố trong quá trình sống thực tế và hình thành phong cách hành vi nhất định. Khi gây án, các đặc điểm tâm lý cá nhân của hung thủ sẽ lộ rõ qua sự vật khách quan, lưu lại đầu mối tâm lý. Vì vậy, thông qua việc phân tích tang chứng tại hiện trường, có thể suy ra manh mối và khắc họa tâm lý của kẻ gây án. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả phá án. Mời các bạn đón đọc Tâm Lý Học Tội Phạm - Phác Họa Chân Dung Kẻ Phạm Tội của tác giả Diệp Hồng Vũ.
Có một ngày, khi Lâm Thần đang đọc sách, Hình Tòng Liên hỏi anhAnh là nhà tâm lý học, vậy anh có thể giúp tôi xem thử, tôi kết hôn với người như thế nào là thích hợp?Lâm Thần còn nhớ, khi đó anh nói rằng, tình yêu là thứ hoàn toàn không thể đong đếm được trên thế giới này, dù là một nhà tâm lý học cũng không thể dự đoán trước được, vì quá trình yêu đương giữa người với người luôn tràn ngập các biến Tòng Liên lại hỏi, biến số là gì?Khi đó Lâm Thần đã nghĩ, biến số chính là khi tôi tưởng anh chỉ là một cảnh sát bình thường, thích nhất là nhâm nhi tôm hùm đất với một chai bia ở quán ven đường, thế mà lại không ngờ anh là……;Hoặc cũng có thể nói, biến số chính là em không biết em đã yêu anh, cũng không biết anh đã yêu em từ khi suy luận, trinh thám, hiện đại, giả tưởng, tâm lý họcNhân vật chính Lâm Thần, Hình Tòng Liên
tâm lý phạm tội