trình tự khởi tố vụ án hình sự
Tố tụng hình sự là một trình tự, thủ tục giải quyết một vụ án hình sự bao gồm các giai đoạn, đã được quy định rõ ràng, cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bước 1: Khởi tố. Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quy trình tố tụng
BLTTHS quy định trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự khá đầy đủ và cụ thể, trở thành cơ sở pháp lý quan trọng, đã và đang phát huy vai trò tích cực trong thực tiễn.Tuy nhiên, sau một thời gian dài áp dụng, các quy định về khởi tố vụ án hình sự cũng dần bộc
Trình tự để khởi tố một vụ án hình sự. Để khởi tố vụ án hình sự cân tuân thủ các bước theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự như sau: Thứ nhất: Phải xác định xem có dấu hiệu của tội phạm hay không Muốn khởi tố được vụ án hình sự thì phải có dấu hiệu tội phạm. Dấu hiệu tội phạm được dựa trên các căn cứ quy định tại điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự
Quy trình các bước khởi tố và giải quyết vụ án hình sự Giai đoạn 1: Tiếp nhận thông tin và chuyển đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Một vụ án hình sự bắt đầu khi có thông tin tố giác về bất kỳ hành vi có dấu hiệu tội phạm. Trường hợp 1:
1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự. Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng giải quyết vụ án hình sự, được xem như đầu vào quy trình tố tụng hình sự nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án, từ đó các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra các quyết định
lirik lagu new syclon hidupku sepi tanpamu. PLO- Sau khi xác minh, Cơ quan CSĐT Công an Quận 7, đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự liên quan đến ca sĩ Ánh Linh con nuôi của danh hài Hoài Linh. Theo nguồn tin của PLO, Công an Quận 7, đã ra thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm theo tố giác của anh Nguyễn Như Phơ DJ Phơ Nguyễn đối với bạn gái cũ của anh là bà Phạm Hoài Linh ca sĩ Ánh Linh, con nuôi nghệ sĩ Hoài Linh trong vụ hủy hoại tài sản và cố ý gây thương tích xảy ra ngày 31-12-2022 tại Chung cư Sunrise City View phường Tân Hưng, Quận 7. Theo thông báo, sau khi xác minh nguồn tin về tội phạm, Công an Quận 7 nhận thấy căn hộ tại chung cư là tài sản đồng sở hữu của anh Phơ và ca sĩ Ánh Linh. Toàn bộ tài sản, vật dụng, thiết bị, máy móc trong căn hộ trên được mua sắm, trang bị trong thời gian khi cả hai còn sống chung. Do đó, không có việc ca sĩ Ánh Linh phạm tội hủy hoại tài sản theo điều 178 BLHS. Ca sĩ Ánh Linh. ẢNH NVCC Theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích ngày 28-2-2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra tại thời điểm giám định của anh Nguyễn Như Phơ là 1% và thương tích này không gây nguy hiểm tín mạng. Do vậy, không đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo điều 134 BLHS đối với ca sĩ Ánh Linh. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 157 BLTTHS, Cơ quan CSĐT Công an Quận 7 ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Ca sĩ Ánh Linh tên thật là Phạm Hoài Linh quê gốc ở Tuyên Quang. Cô tham gia nhiều cuộc thi như Solo cùng Bolero mùa thứ hai - năm 2015, Biến hoá hoàn hảo… Sau khi tham gia chương trình Solo cùng bolero, cô đã được danh hài Hoài Linh đổi tên thành Ánh Linh để tránh gây nhầm lẫn cho khán giả. Danh hài Hoài Linh cũng quyết định nhận cô làm con nuôi để hỗ trợ con đường nghệ thuật. Ca sĩ Ánh Linh từng có mối tình gần một năm với bạn trai là DJ Phơ Nguyễn, cả hai từng xuất hiện cùng nhau trong chương trình Mảnh ghép hoàn hảo… MINH CHÂU
1. Tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về thủ tục tiếp nhận tin tức tội phạm đối với từng nhóm chủ thểThứ nhất, nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận có thể ghi âm, ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận. Nếu tố giác tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố được gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Thứ hai, công an cấp xã, phường, thị trấn, đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo các đồ vật, tài liệu có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Thứ ba, đối với các cơ quan, tổ chức khác, sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền, trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho Cơ quan điều tra nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hình minh họa. Trình tự, thủ tục khởi tố vụ án hình sự 2. Kiểm tra, xác minh các nguồn tin về tội phạm Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gắn với thẩm quyền điều tra, do đó cơ quan có trách nhiệm kiểm tra, xác minh nguồn tin để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự bao gồm Cơ quan điều tra và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra. Thời hạn kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố. Đối với tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng thì ngày tính thời hạn kiểm tra, xác minh là ngày cơ quan, phương tiện thông tin đại chúng phát nguồn tin đó. Trong trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải tiến hành kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì có thể kéo dài nhưng không quá 02 tháng. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh đối với loại vụ việc phức tạp này thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 02 tháng Điều 147. Như vậy, điểm mới trong quy định này là gia hạn thời hạn giải quyết tin báo tố giác về tội phạm, đã góp phần tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn tố tụng nước ta thời gian trước đây, đồng thời bảo đảm chặt chẽ, tránh lợi dụng kéo dài thời gian giải quyết dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Những biện pháp kiểm tra, xác minh nguồn tin bao gồm Tiến hành kiểm tra giấy tờ tuỳ thân, hộ khẩu, đăng ký tạm trú của người bị tố cáo; yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan đến sự việc cung cấp những tài liệu, vật cần thiết có giá trị chứng minh sự việc phạm tội như các văn bản, giấy tờ, tài liệu hoặc các biên bản kiểm tra, kết luận thanh tra… Nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân có liên quan phải chấp hành các yêu cầu của cơ quan khởi tố; Yêu cầu cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan giải thích những vấn đề liên quan đến vụ việc. Nội dung yêu cầu giải thích chủ yếu để tìm ra dấu hiệu tội phạm. Khi yêu cầu giải thích, người xác minh không được áp dụng biện pháp hỏi cung hoặc cưỡng chế tố tụng đối với người được yêu cầu giải thích; Nếu bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì tiến hành ngay việc lấy lời khai của người bị bắt; Trong những trường hợp cần thiết thì khám nghiệm hiện trường và tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để thu thập chứng cứ, xác định dấu hiệu tội phạm. Tóm lại, các tin tức về tội phạm đều phải được kiểm tra, xác minh và tuỳ theo tính chất từng tin báo, từng sự việc, từng đối tượng mà đề ra biện pháp kiểm tra phù hợp. Việc kiểm tra phải tuân theo các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Sau khi kiểm tra, xác minh, kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được Cơ quan điều tra gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức, người báo tin hoặc tố giác biết. 3. Quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự Quyết định khởi tố vụ án hình sự Quyết định khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý xác định có sự việc phạm tội và sự việc đó có dấu hiệu tội phạm làm cơ sở để tiến hành các hoạt động điều tra và áp dụng các biện pháp tố tụng tiếp theo. Các hoạt động điều tra chỉ được coi là hợp pháp nếu được thực hiện sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án trừ trường hợp khám nghiệm hiện trường để thu thập các dấu vết của tội phạm, bắt người trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ và khám xét trong các trường hợp này. Vì vậy, khi tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin về tội phạm đã xác định có dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Ngày khởi tố vụ án hình sự là thời điểm bắt đầu để tính thời hạn điều tra vụ án. Chính vì vậy, trong quyết định khởi tố vụ án phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra quyết định; ghi rõ căn cứ pháp lý để quyết định khởi tố vụ án; ghi rõ tội danh, điều, khoản Bộ luật Hình sự được áp dụng làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo. Việc ghi rõ căn cứ khởi tố trong quyết định giúp cho người có thẩm quyền khởi tố phải cân nhắc kỹ, tránh sự lạm dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng. Ví dụ nếu vụ án được khởi tố về tội theo khung có mức hình phạt cao nhất dưới 02 năm tù thì không thể áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam. Để việc tiến hành điều tra vụ án được nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát đã khởi tố vụ án phải gửi quyết định khởi tố đó đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiến hành điều tra. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định đó kèm theo tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố. Trong trường hợp Hội đồng xét xử khởi tố vụ án thì quyết định khởi tố được gửi tới Viện kiểm sát cùng cấp để xem xét, kèm theo tài liệu liên quan. Việc xác định tội danh, hành vi phạm tội, điều khoản Bộ luật Hình sự được áp dụng trong quyết định khởi tố vụ án sẽ là cơ sở cho nhiều vấn đề của quá trình tố tụng tiếp theo cả về trình tự, thủ tục, thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử cũng như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo. Tuy nhiên, khi tiến hành các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra có điều kiện thu thập thêm tài liệu, chứng cứ. Các tài liệu, chứng cứ mới được thu thập giúp cho nhận thức, đánh giá về hành vi phạm tội đầy đủ, chính xác hơn. Vì vậy, những nhận thức ban đầu về tội phạm khi khởi tố vụ án đã không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc mới phát hiện thêm tội phạm khác thì quyết định khởi tố cần phải được thay đổi hoặc bổ sung cho phù hợp. Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác chưa bị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Việc thay đổi quyết định khởi tố được tiến hành khi có căn cứ xác định tội phạm đó khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra. Còn khi xác định còn có tội phạm khác chưa bị khởi tố thì tiến hành quyết định khởi tố bổ sung vụ án hình sự. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chỉ Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát mới có thẩm quyền thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư tuy có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự nhưng chỉ trong một thời gian ngắn phải chuyển cho Viện kiểm sát trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng thì các cơ quan này khởi tố vụ án, tiến hành điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 01 tháng hoặc cho Cơ quan điều tra trường hợp tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng phức tạp thì khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu và chuyển hổ sơ cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày. Đối với các cơ quan khác của Công an nhân dân và Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, mặc dù được giao thẩm quyển khởi tố vụ án, nhưng chỉ được tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu và cũng phải chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày. Thẩm quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố đối với các cơ quan này cũng không được đặt ra. Quyết định khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử được giao ngay cho Viện kiểm sát để xem xét việc điều tra, và sau khi xét xử vụ án, Hội đồng xét xử giải tán nên thẩm quyền thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố cũng không đặt ra. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý của người có thẩm quyền khởi tố xác định nguồn tin về tội phạm hoặc một sự việc nào đó không có căn cứ khởi tố vụ án hình sự. Quyết định không khởi tố vụ án hình sự được thực hiện khi có một trong những căn cứ không khởi tố vụ án hình sự được quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đó là không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự năm 2015 mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố. Khi có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự thì cơ quan có thẩm quyền khởi tố trong phạm vi trách nhiệm của mình ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố. Sau khi ra quyết định không khởi tố vụ án hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố, nếu xét thấy cần thiết, cơ quan đã ra quyết định gửi hồ sơ cho cơ quan, tổ chức hữu quan giải quyết bằng biện pháp hành chính, xử lý kỷ luật, trách nhiệm dân sự… Cơ quan đã ra quyết định phải thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm biết lý do. Trong thời hạn 24 giờ, cơ quan đã ra quyết định phải gửi quyết định không khởi tố vụ án, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự và các tài liệu liên quan đến Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát việc ra quyết định. Nếu thấy việc ra quyết định không có căn cứ thì Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án và ra quyết định khởi tố vụ án để tiến hành điều tra.
Sau khi xác minh, Cơ quan CSĐT Công an Quận 7, đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự liên quan đến ca sĩ Ánh Linh con nuôi của danh hài Hoài Linh.Theo nguồn tin, Công an Quận 7, đã ra thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm theo tố giác của anh Nguyễn Như Phơ DJ Phơ Nguyễn đối với bạn gái cũ của anh là bà Phan Hoài Linh ca sĩ Ánh Linh, con nuôi nghệ sĩ Hoài Linh trong vụ hủy hoại tài sản và cố ý gây thương tích xảy ra ngày 31-12-2022 tại Chung cư Sunrise City View phường Tân Hưng, Quận 7.Theo thông báo, sau khi xác minh nguồn tin về tội phạm, Công an Quận 7 nhận thấy căn hộ tại chung cư là tài sản đồng sở hữu của anh Phơ và ca sĩ Ánh bộ tài sản, vật dụng, thiết bị, máy móc trong căn hộ trên được mua sắm, trang bị trong thời gian khi cả hai còn sống chung. Do đó, không có việc ca sĩ Ánh Linh phạm tội hủy hoại tài sản theo điều 178 sĩ Ánh Linh. ẢNH NVCCTheo bản kết luận giám định pháp y về thương tích ngày 28-2-2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại kết luận tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra tại thời điểm giám định của anh Nguyễn Như Phơ là 1% và thương tích này không gây nguy hiểm tín vậy, không đủ yếu tố cấu thành tội cố ý gây thương tích theo điều 134 BLHS đối với ca sĩ Ánh cứ khoản 1, 2 Điều 157 BLTTHS, Cơ quan CSĐT Công an Quận 7 ra quyết định không khởi tố vụ án hình sĩ Ánh Linh tên thật là Phan Hoài Linh quê gốc ở Tuyên Quang. Cô tham gia nhiều cuộc thi như Solo cùng Bolero mùa thứ hai - năm 2015, Biến hoá hoàn hảo…Sau khi tham gia chương trình Solo cùng bolero, cô đã được danh hài Hoài Linh đổi tên thành Ánh Linh để tránh gây nhầm lẫn cho khán giả. Danh hài Hoài Linh cũng quyết định nhận cô làm con nuôi để hỗ trợ con đường nghệ sĩ Ánh Linh từng có mối tình gần một năm với bạn trai là DJ Phơ Nguyễn, cả hai từng xuất hiện cùng nhau trong chương trình Mảnh ghép hoàn hảo…Theo Pháp luật
Khái niệm khởi tố là gì? Khởi tố vụ án hình sự là gì? Phân biệt giữa khởi tổ vụ án và khởi tố bị can? Quyền hạn và trình tự, thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp?Hiện nay, khi nền kinh tế đang ngày càng phát triển đã kéo theo nhiều vấn đề tiêu cực phát sinh. Vì vậy, hiện tượng vi phạm pháp luật ngày càng diễn ra phổ biến, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…Tuy nhiên, nhiều người vẫn còn thắc mắc việc vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý theo trình từ như thế nào. Và giai đoạn khởi tố chính là giai đoạn đầu tiên trong quá trình giải quyết một vụ án nào đó. Căn cứ pháp lý Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Thông tư 46/2019/TT-BCA quy định trách nhiệm của lực lượng công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 Tư vấn luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài điện thoại Mục lục bài viết 1 1. Khởi tố là gì? 2 2. Khởi tố vụ án hình sự là gì? 3 3. Phân biệt giữa khởi tổ vụ án và khởi tố bị can 4 4. Quyền hạn và trình tự, thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Khởi tố là giai đoạn đầu tiên trong tố tụng hình sự, theo đó cơ quan tư pháp hình sự sẽ tiến hành xác định có hay không các dấu hiệu của tội phạm trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đồng thời cơ quan có thẩm quyền cũng ban hành quyết định về việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự có liên quan tới hành vi này. Khởi tố hay khởi tố hình sự là giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra nên nó có chức năng chính là thực hiện nhiệm vụ cụ thể để xác định các tiền đề pháp luật về nội dung và pháp luật về hình thức đối với việc điều tra vụ án hình sự. Khởi tố bắt đầu từ thời điểm nhận được những thông tin đầu tiên về việc thực hiện hành vi phạm tội và kết thúc bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự có liên quan tới hành vi đó. Khởi tố vụ án hình sự cũng được xem là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trước khi khởi tố bị can và áp dụng các biện pháp nghiệp vụ trong giai đoạn tiếp theo là giai đoạn điều tra. Khởi tố hình sự cùng với các giai đoạn tiếp theo trong tố tụng hình sự sẽ góp phần hiệu quả trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong xã hội. 2. Khởi tố vụ án hình sự là gì? Quá trình giải quyết vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS gồm 05 giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, và thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Lênin nói rằng “Tác dụng ngăn ngừa của hình phạt… hoàn toàn không phải ở chỗ hình phạt đó phải nặng mà ở chỗ đã phạm tội thì không thoát khỏi bị trừng phạt. Điều quan trọng không phải ở chỗ đã phạm tội thì trừng phạt nặng mà là ở chỗ không tội phạm nào không bị phát hiện”. Qua đó có thể thấy được tầm quan trọng của việc phát hiện tội phạm, người phạm tội, hay nói cách khác tầm quan trọng của giai đoạn khởi tố trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thì khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng. Giai đoạn này được bắt đầu kể từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin về tội phạm tố giác của công dân; tin báo của cơ quan tổ chức; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu phạm tội; người phạm tội tự thú và kết thúc khi cơ quan có thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự mà quyết định này không bị hủy bỏ theo quy định của pháp luật. Quyết định khởi tố vụ án hình sự là văn bản pháp lý kết thúc giai đoạn khởi tố vụ án, bắt đầu giai đoạn điều tra vụ án hình sự, nói cách khác quyết định khởi tố vụ án hình sự là cơ sở pháp lý để tiến hành điều tra. Trong khi quyết định không khởi tố vụ án hình sự là căn cứ chấm dứt mọi hoạt động tố tụng, đình chỉ giải quyết vụ việc. Về khái niệm khởi tố vụ án hình sự là gì, đã có rất nhiều sách, giáo trình đưa ra một số định nghĩa như sau Theo định nghĩa trong Từ điển luật học “Khởi tố vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, mở đầu các hoạt động điều tra. Trong giai đoạn này, cơ quan có thẩm quyền khởi tố tiến hành các hoạt động để xác định dấu hiệu của tội phạm” GS. TS. Lê Cảm trong cuốn sách “Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự phần chung” thì định nghĩa khởi tố vụ án hình sự như sau “khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, được thực hiện kể từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và kiểm tra, xác minh những tố giác, tin báo về tội phạm của cơ quan, tổ chức, công dân hoặc tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong trường hợp người phạm tội đầu thú, các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự”. Tại Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Đại học Luật Hà Nội, có đưa ra định nghĩa “khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó, cơ quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự” Giáo trình Luật tố tụng hình sự, Đại học Luật Cần Thơ cũng đưa ra định nghĩa của khởi tố vụ án hình sự như sau “Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền thu thập, xử lý các thông tin ban đầu và ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự”. Ở cấp độ luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, đã có một số tác giả đưa ra khái niệm khởi tố vụ án hình sự như sau Tác giả Somexai Keomane tại luận văn thạc sĩ Kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh” của mình đưa ra khái niệm “Khởi tố vụ án hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự” Tác giả Trần Thị Ngọc Lê tại luận văn thạc sĩ “Kiểm sát việc Khởi tố vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam” đưa ra khái niệm “Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên trong tố tụng hình sự. Trong đó, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, áp dụng một số hoạt động điều tra, xác minh ban đầu và ra quyết định khởi tố hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự” Trong bài viết “Yêu cầu khởi tố vụ án hình sự” của tác giả Mai Thanh Hiếu trên tạp chí Nghề Luật số 01/2010 thì định nghĩa khởi tố vụ án hình sự như sau “Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của quá trình tố tụng hình sự, được thực hiện kể từ khi cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và kiểm tra, xác minh những tố giác, tin báo về tội phạm của cơ quan, tổ chức, công dân hoặc tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong trường hợp người phạm tội đầu thú, các cơ quan có thẩm quyền trực tiếp phát hiện tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự”. Tuy có sự khác nhau nhưng những khái niệm trên đều có chung quan điểm rằng khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên của hoạt động tố tụng hình sự; trong đó, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng điều tra, xác minh xem có hay không có dấu hiệu của tội phạm; cơ quan có thẩm quyền trên cơ sở điều tra xác minh của mình mà ban hành quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu thấy có dấu hiệu của tội phạm, hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự nếu không có dấu hiệu của tội phạm, hoặc có dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó không đáng kể. Quyết định khởi tố vụ án hình sự, hay quyết định không khởi tố vụ án hình sự là một văn bản pháp lý quan trọng để làm cơ sở cho các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo nếu có. Kế thừa, học hỏi từ những khái niệm, phân tích nói trên, tác giả đưa ra khái niệm khởi tố vụ án hình sự như sau “khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên trong các giai đoạn tố tụng hình sự mà trong đó các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền tiến hành điều tra, xác minh có hay không có tội phạm và tội phạm đó có đủ điều kiện khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật hay không để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, làm cơ sở cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo”. 3. Phân biệt giữa khởi tổ vụ án và khởi tố bị can Khởi tố vụ án và khởi tố bị can là hai hoạt động trong tố tụng hình sự. Khởi tố vụ án và khởi tố bị can có điểm giống nhau đều là quyết định bắt đầu điều tra công khai theo trình tự thủ tục TTHS, nhưng khác nhau về thời điểm, yêu cầu và căn cứ khởi tố Khởi tố vụ án Khởi tố bị can Đối tượng của quyết định khởi tố Khởi tố về HÀNH VI có dấu hiệu phạm tội. Khởi tố NGƯỜI hoặc PHÁP NHÂN có dấu hiệu phạm tội. Căn cứ khởi tố Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ Tố giác của cá nhân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Người phạm tội tự thú. Sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra vụ án. Từ đó, nếu có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị bị can. Quyết định khởi tố bị can phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với cơ quan điều tra. Thẩm quyền ra quyết định khởi tố Có 04 cơ quan – Cơ quan điều tra; – Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; – Viện kiểm sát; – Hội đồng xét xử. Có 03 cơ quan – Cơ quan điều tra; – Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; – Viện kiểm sát. Các giai đoạn ra quyết định khởi tố Có 04 giai đoạn có thể khởi tố – Giai đoạn khởi tố; – Giai đoạn điều tra; – Giai đoạn truy tố; – Giai đoạn xét xử. Có 02 giai đoạn có thể khởi tố – Giai đoạn điều tra; – Giai đoạn truy tố. Kết thúc khởi tố Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án được tính từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp xác định có dấu hiệu tội phạm, hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự khi xác định không có dấu hiệu tội phạm. Khởi tố bị can không phải là giai đoạn tố tụng mà chỉ là hành vi tố tụng tại giai đoạn điều tra của người có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can khi đã xác định được một người cụ thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự, cần phải tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Mối quan hệ Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải có trước quyết định khởi tố bị can. vì sau khi khởi tố vụ án bước vào giai đoạn điều tra thì cơ quan có thẩm quyền mới điều tra căn cứ xác định 04 yếu tố cấu thành tội phạm để có căn cứ khởi tố bị can. Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành hai quyết định này cùng một thời điểm ngay khi xác định tại sự việc, sự kiện phạm tội có dấu hiệu tội phạm thì cũng đồng thời xác định được ngay người thực hiện hành vi phạm tội. như trường hợp bắt tội phạm quả tang 4. Quyền hạn và trình tự, thủ tục đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Thứ nhất, Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy nhờ Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố; Thứ hai, bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; Thứ ba, người đại diện của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Sau khi Cơ quan điều tra hoặc trực ban hình sự của từng đơn bị điều tra, trực ban các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Bên cạnh đó phải có trách nhiệm ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm nhận, thực hiện việc đóng dấu văn bản đến và giao ngay cho Điều tra viên được phân công vụ giải quyết vụ án, vụ việc. Trường hợp hồ sơ đảm bảo theo quy định thì trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi tiếp nhận, Điều tra viên, Cán bộ điều tra có trách nhiệm trình Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Cấp trưởng, Cấp phó cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ký Thông báo về việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và vào sổ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Trường hợp hồ sơ đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chưa bảo đảm theo quy định thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra thông báo cho người đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp biết để bổ sung hồ sơ. Trường hợp có căn cứ từ chối việc đăng ký bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc có trách nhiệm thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố. Ngoài ra, trách nhiệm trong việc thực hiện một số hoạt động của người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng được quy định cụ thể tại Thông tư này. Cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc phải báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành tố tụng mà người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền tham gia tối thiểu 24 giờ đối với trường hợp người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cư trú cùng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc, 48 giờ đối với trường hợp người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cư trú khác tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với cơ quan đang thụ lý vụ án, vụ việc trước ngày tiến hành hoạt động tố tụng. Trường hợp người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nhất trí với Điều tra viên, Cán bộ điều tra thời hạn sớm hơn thì việc thực hiện các hoạt động tố tụng được thực hiện theo thỏa thuận đó. Khi lấy lời khai người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, Điều tra viên, Cán bộ điều tra và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, kiến nghị khởi tố phải thực hiện theo quy định của điểm c khoản 3 Điều 83 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trường hợp Điều tra viên, Cán bộ điều tra đồng ý cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, kiến nghị khởi tố được hỏi thì phải ghi câu hỏi của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, câu trả lời của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố vào biên bản lấy lời khai. Khi kết thúc việc lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải đọc lại hoặc đưa cho người bào chữa đọc lại biên bản lấy lời khai, sau khi xác nhận đúng nội dung câu hỏi của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, câu trả lời của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố thì Điều tra viên, Cán bộ điều tra yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố ký vào biên bản. Trường hợp biên bản ghi chưa đầy đủ, chưa chính xác nội dung câu hỏi và câu trả lời, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố có quyền đề nghị sửa đổi, bổ sung hoặc ghi ý kiến của mình trước khi ký vào biên bản. Lưu ý Khi người bào chữa đề nghị, Điều tra viên phải xác nhận thời gian làm việc thực tế của người bào chữa tham gia tố tụng trong quá trình điều tra vụ án hình sự.
Nếu bạn có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ về luật hình sự, hãy liên hệ ngay cho luật sư qua hotline Luật sư can thiệp càng sớm, cơ hội bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp càng cao! Bạn đang thắc mắc trình tự xét xử vụ án hình sự gồm những giai đoạn nào? Quy trình xét xử vụ án hình sự diễn ra ra sao? Hãy theo dõi bài viết dưới đây của Luật Quang Huy, chúng tôi sẽ giúp bạn giải đáp các thắc mắc này. 1. Trình tự xét xử vụ án hình sự gồm những giai đoạn nào?2. Tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi Khái Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố3. Khởi tố vụ án hình sự4. Điều tra vụ án hình sự5. Truy tố6. Xét xử vụ án hình Quy trình xét xử sơ thẩm vụ án hình Quy trình xét xử phúc thẩm vụ án hình Thủ tục bắt đầu phiên Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc Thủ tục phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm7. Thi hành bản án và quyết định của Tòa án8. Xét lại các bản án và quyết định có hiệu lực của Tòa án9. Cơ sở pháp lý 1. Trình tự xét xử vụ án hình sự gồm những giai đoạn nào? Trình tự xét xử một vụ án hình sự theo quy định hiện nay có bảy giai đoạn, gồm Khởi tố vụ án hình sự; Điều tra vụ án hình sự; Truy tố vụ án hình sự; Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; Xét xử phúc thẩm vụ án hình sự; Thi hành bản án và quyết định của Tòa án; Xét lại các bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Tùy thuộc vào tính chất của từng vụ án hình sự mà có những vụ án hình sự sẽ không trải qua đầy đủ các giai đoạn nêu trên, một vụ án hình sự thường sẽ qua năm giai đoạn cơ bản là khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Quy trình giải quyết vụ án hình sự 2. Tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Khái niệm Tố giác về tội phạm được quy định tại Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2021 đó là việc các nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, các nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tin tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm; Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình; Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình; Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy định phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thành việc tiếp nhận. Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận. Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho cơ quan điều tra có thẩm quyền. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 của Bộ Luật Tố tụng hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021 thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết. Công an phường, thị trấn, đồn công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho cơ quan có thẩm quyền. Công an xã có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận; lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Các cơ quan, tổ chức khác sau khi được tố giác, tin báo về tội phạm thì chuyển ngay cho cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho cơ quan điều tra nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền. Thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định Quyết định khởi tố vụ án hình sự Nếu các dấu hiệu của tội phạm đã rõ ràng; Quyết định không khởi tố vụ án hình sự Nếu không có dấu hiệu tội phạm; Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Chưa thể kết luận về tố giác, tin báo tội phạm, kiện nghị khởi tố vì phải chờ kết quả của hoạt động tố tụng khác. Lưu ý Trường hợp vụ việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn giải quyết tố giác, tin báo, kiến nghị khởi tố có thể kéo dài nhưng không quá 2 tháng. Trường hợp chưa thể kết thúc việc kiểm tra, xác minh trong thời hạn quy định tại khoản này thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trường Viện kiểm sát có thẩm quyền có thể gia hạn một lần nhưng không quá 2 tháng. Chậm nhất là 05 ngày trước khi kết thúc thời hạn kiểm tra, xác minh, cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền gia hạn thời hạn kiểm tra, xác minh. Khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền có quyền tiến hành các hoạt động Thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để kiểm tra xác minh nguồn tin; Khám nghiệm hiện trường; Trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản. 3. Khởi tố vụ án hình sự Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên mà trong đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định có hay không các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó. Theo quy định tại Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2021 thì chỉ được khởi tố vụ án khi xác định được dấu hiệu tội phạm trên một trong những căn cứ sau Tố giác của cá nhân; Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Tin báo của phương tiện thông tin đại chúng; Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Người phạm tội tự thú. Quyết định khởi tố vụ án là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc điều tra. Các hoạt động điều tra và việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế chỉ được tiến hành sau khi có quyết định khởi tố vụ án. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết phải làm sáng tỏ những tài liệu đầu tiên, xác định hoàn cảnh, địa điểm xảy ra tội phạm, thu thập những vật chứng và những tình tiết có giá trị cho việc phát hiện tội phạm thì tiến hành khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi; trưng cầu giám định; yêu cầu định giá tài sản; trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì giữ người hoặc bắt người trước khi khởi tố vụ án. 4. Điều tra vụ án hình sự Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng mọi biện pháp để xác định tội phạm. Khi đủ chứng cứ, cơ quan điều tra sẽ ra bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố. Trường hợp đặc biệt đối với thủ tục rút gọn thì chỉ cần ra quyết định đề nghị truy tố. Thẩm quyền điều tra thuộc về Cơ quan điều tra của Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương điều tra tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ quy định tại Chương XXIII và Chương XXIV của Bộ luật hình sự xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án, người có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp. Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt. Để đảm bảo cho quá trình điều tra được xử lí một cách nhanh chóng, kịp thời, pháp luật hình sự đã quy định rõ thời hạn điều tra tại Khoản 1 Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 Không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng; Không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra. Tuy nhiên, do nhiều vụ án có tính chất phức tạp, được thực hiện trên quy mô lớn, nhiều đối tượng tham gia thì vụ án đó được gia hạn thời hạn điều tra. Thời hạn gia hạn được quy định tại Khoản 2, 3, 4 Điều 172 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 2. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra. Việc gia hạn điều tra được quy định như sau a Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá 02 tháng; b Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng; c Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá 04 tháng; d Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá 04 tháng. 3. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng. Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần không quá 04 tháng. 4. Trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, nhập vụ án thì tổng thời hạn điều tra không vượt quá thời hạn quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này. Điều tra vụ án hình sự 5. Truy tố Truy tố vụ án hình sự do Viện kiểm sát thực hiện. Trong thời hạn 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án và kết luận điều tra, Viện kiểm sát phải ra một trong các quyết định Truy tố bị can trước Tòa. Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung. Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án đối với bị can. Trong trường hợp cần thiết thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thể gia hạn thời hạn quyết định việc truy tố nhưng Không quá 10 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng; Không quá 15 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Quy trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2021 thì việc Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự cần phải được tiến hành theo quy trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, trình tự xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau Bước 1 Nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý vụ án Tòa án kiểm tra và xử lý bản cáo trạng, hồ sơ vụ án và vật chứng kèm theo do viện kiểm sát giao và nếu đầy đủ thì tiến hành thụ lý vụ án. Trong thời hạn 30 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 45 ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, 02 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 03 tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra một trong các quyết định Đưa vụ án ra xét xử; Trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung; Tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án. Đối với vụ án phức tạp, Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 15 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp. Bước 2 Giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa Trước khi mở phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải giải quyết các yêu cầu, đề nghị Yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa; về việc thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; Đề nghị của bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa về việc thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; Đề nghị của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc xét xử theo thủ tục rút gọn, xét xử công khai hoặc xét xử kín; Đề nghị của người tham gia tố tụng về việc vắng mặt tại phiên tòa. Nếu xét thấy yêu cầu, đề nghị có căn cứ thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết theo thẩm quyền hoặc thông báo cho người có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật này và thông báo cho người đã yêu cầu, đề nghị biết; nếu không chấp nhận thì thông báo cho họ bằng văn bản nêu rõ lý do. Bước 3 Thực hiện thủ tục bắt đầu phiên tòa. Chuẩn bị khai mạc phiên tòa; Khai mạc phiên tòa; Giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; Cam đoan của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản; Cam đoan của người làm chứng, cách ly người làm chứng; Giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt. Bước 4 Tiến hành thủ tục tranh tụng tại phiên tòa Công bố bản cáo trạng; Tiến hành xét hỏi và kết thúc việc xét hỏi; Kiểm sát viên rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa; Kiểm sát viên tiến hành luận tội; Tiến hành tranh luận tại phiên tòa; Tiếp tục xét hỏi; Bị cáo nói lời sau cùng. Bước 5 Nghị án và tuyên án Nghị án Sau khi kết thúc tranh luận, hội đồng xét xử vào phòng nghị án để thảo luận về quyết định bản án, tiến hành xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến luận tội của viện kiểm sát, lời bào chữa, ý kiến của bị cáo, người có lợi ích cần được giải quyết trong vụ án. Thành viên hội đồng xét xử tiến hành biểu quyết các vấn đề của vụ án theo đa số. Tuyên án Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử đọc bản án. Trường hợp xét xử kín thì chỉ đọc phần quyết định trong bản án. Sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo. Trả tự do cho bị cáo hoặc bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án. Quy trình xét xử phúc thẩm vụ án hình sự Theo quy định tại Điều 330 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2021 thì việc xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xem xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị. Theo đó, trình tự thủ tục phiên tòa phúc thẩm hình sự được tiến hành theo các bước như sau Thủ tục bắt đầu phiên tòa Chuẩn bị khai mạc phiên tòa; Khai mạc phiên tòa; Giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; Cam đoan của người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản Sau khi giải thích quyền và nghĩa vụ cho người phiên dịch, người dịch thuật, người giám định, người định giá tài sản thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu những người này phải cam đoan làm tròn nhiệm vụ; Cam đoan của người làm chứng, cách ly người làm chứng; Giải quyết yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt. Trình tự xét xử vụ án hình sự Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm Công bố bản cáo trạng; Một thành viên của Hội đồng xét xử trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị. Chủ tọa phiên tòa điều hành việc hỏi, quyết định người hỏi trước, hỏi sau theo thứ tự hợp lý. Công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố; Hỏi bị cáo; Hỏi bị hại, đương sự hoặc người đại diện của họ; Hỏi người làm chứng; Xem xét vật chứng; Trình bày, công bố báo cáo, tài liệu của cơ quan, tổ chức; Tranh luận tại phiên tòa Chủ tọa phiên tòa hỏi người kháng cáo có thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo. Chủ tọa phiên tòa hỏi Kiểm sát viên có thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị hay không; nếu có thì chủ tọa phiên tòa yêu cầu bị cáo và những người liên quan đến kháng nghị trình bày ý kiến về việc thay đổi, bổ sung, rút kháng nghị. Khi tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên, người khác liên quan đến kháng cáo, kháng nghị phát biểu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị; Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Ra quyết định Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án sơ thẩm; Sửa bản án sơ thẩm; Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại; Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án; Điều tra lại hoặc xét xử lại vụ án hình sự. Thủ tục phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm Khi phúc thẩm đối với quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm phải triệu tập người kháng cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị tham gia phiên họp. Trường hợp họ vắng mặt thì Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành phiên họp. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ vụ án, Tòa án phải mở phiên họp để xem xét quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Hội đồng xét xử phúc thẩm phải mở phiên họp. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định thì Tòa án phải chuyển hồ sơ vụ án kèm theo quyết định mở phiên họp cho Viện kiểm sát cùng cấp. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Tòa án. Tại phiên họp, một thành viên của Hội đồng xét xử phúc thẩm trình bày tóm tắt nội dung quyết định sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị và chứng cứ, tài liệu, đồ vật kèm theo nếu có. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt tại phiên họp và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị trước khi Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định. Lưu ý Khi xét xử Hội đồng xét xử chỉ xem xét xử lại những phần bị kháng cáo, kháng nghị trong bản án của tòa sơ thẩm, nhưng trên cơ sở xem xét toàn bộ vụ án. Tòa phúc thẩm có thể ra một trong các quyết định sau bác kháng cáo, kháng nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm, sửa án sơ thẩm; hủy án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại; hủy án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. 7. Thi hành bản án và quyết định của Tòa án Trong quá trình này, cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành án tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện bản án và quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Áp dụng các biện pháp cưỡng chế những người có hành vi vi phạm pháp luật thi hành bản án quyết định đối với các hình phạt như hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân; tử hình; cải tạo không giam giữ; tịch thu tài sản; cấm huy động vốn kinh doanh; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc một số ngành nghề nhất định; cấm cư trú, trục xuất,… Thi hành bản án và quyết định của Tòa án 8. Xét lại các bản án và quyết định có hiệu lực của Tòa án Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị giám đốc thẩm vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án thuộc một trong các căn cứ sau đây Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật; Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba. Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi nào ra bản án, quyết định đó. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án. Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật. Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ. 9. Cơ sở pháp lý Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2021; Thông tư 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC, Quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về vấn đề trình tự xét xử vụ án hình sự. Qua bài viết này, chúng tôi mong rằng sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về vấn đề này. Để được tư vấn đầy đủ và chính xác nhất, mời quý khách hàng liên hệ tới Tổng đài tư vấn Luật hình sự trực tuyến qua HOTLINE 19006588 của Luật Quang Huy để nhận tư vấn thêm về vấn đề mà quý khách hàng đang gặp phải. Trân trọng./.
trình tự khởi tố vụ án hình sự